PHONG CÁCH TRỌNG DÂN, VÌ DÂN CỦA HỒ CHÍ MINH - LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

 
Phong cách trọng dân, vì dân của Hồ Chí Minh là một trong những bộ phận quan trọng trong toàn bộ di sản vô giá mà Người để lại cho dân tộc ta. Phong cách trọng dân, vì dân của Người không những là bài học, là chuẩn mực cho việc xây dựng phong cách người cán bộ, đảng viên mà còn bồi dưỡng nhân cách cho các thế hệ con người Việt Nam hôm nay và mai sau.
Hồ Chí Minh trên cương vị là người đứng đầu của Đảng và Nhà nước, là lãnh tụ tối cao của dân tộc, Người đã có một đạo đức, phong cách làm việc mẫu mực khi thực hiện sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, giải quyết đúng đắn mối quan hệ với quần chúng nhân dân và các tầng lớp lao động khác. Người không dựa vào quyền lực để bắt buộc mọi người phải phục tùng, tuân theo mệnh lệnh của mình, mà thuyết phục con người bằng một phong cách làm việc vừa mang tính nguyên tắc vừa mang tính khoa học, vừa có tình nhân ái bao la của một tấm lòng nhân hậu, có lý, có tình. Phong cách làm việc của Hồ Chí Minh không chỉ tác động đến nhận thức mà còn cảm hoá cả trái tim của những con người lầm đường lạc lối. Qua phong cách làm việc của Người, mọi người tin theo Đảng, tin theo đội ngũ cán bộ quản lý Nhà nước không chỉ bằng lý trí, mà còn bằng cả tình cảm chân thành sâu sắc nhất của mình.
Trước thực tiễn, từ khi giành được độc lập đến nay, phong cách làm việc của một số cán bộ, đảng viên ở một số cơ quan, đoàn thể từ cấp trung ương đến địa phương còn thiếu sự nghiêm túc, tác phong làm việc chưa thật sự chuẩn mực. Một số cán bộ, đảng viên làm việc cứng nhắc, giáo điều, vì lợi ích riêng của mình mà xem nhẹ lợi ích chung của nhân dân, không tôn trọng, lắng nghe ý kiến của người dân, của các nhà khoa học, dẫn đến những bức xúc, nhức nhối kéo dài trong suốt thời gian qua, gây ra những mâu thuẫn về lợi ích, ảnh hưởng đến uy tín, chất lượng của đội ngũ cán bộ, đảng viên, ảnh hưởng đến vai trò lãnh đạo, chỉ đạo đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước là điều không thể tránh khỏi.
Một số cán bộ, đảng viên, người đứng đầu trong quá trình làm việc đã thiếu ý thức, thiếu trách nhiệm dẫn đến những hệ quả tiêu cực mà người dân đang hàng ngày, hàng giờ phải gánh chịu. Vấn đề này đã ăn sâu, bén rễ ở một số cơ quan công quyền từ Trung ương đến địa phương trong suốt một thời gian dài. Cùng với đó, là một số cơ quan đơn vị làm việc thiếu dân chủ, hoặc dân chủ hình thức dẫn đến việc một số cán bộ, đảng viên không có năng lực, trình độ hạn chế nhưng lại được bầu vào vị trí cao. Ngược lại, một số có năng lực, có trình độ chuyên môn cao lại không được bầu vào vị trí lãnh đạo để phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước. Thực tiễn đó đang đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay phải không ngừng học tập tấm gương đạo đức, phong cách làm việc trọng dân, vì dân, trọng dụng người tài của Hồ Chí Minh.
Nhận thức được sự suy thoái về mặt đạo đức, phong cách làm việc của một số bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên trong suốt thời gian qua không phải vì dân, vì nước, mà vì lợi ích riêng của bản thân, gia đình, đang gây ra nhiều ảnh hưởng tiêu cực cho nền kinh tế - xã hội, làm cho nền kinh tế trì trệ, chất lượng cuộc sống của người dân bị ảnh hưởng nghiêm trọng, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Vì vậy, Đảng ta đã ra nhiều Chỉ thị, Nghị quyết như: Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ chính trị khóa XI về “Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, hay Nghị quyết Trung ương 4 khoán XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” và mới đây nhất là Chỉ thị 05-CT/TW “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, v.v. nhằm nâng cao đạo đức, phong cách làm việc cho đội ngũ cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay đang trở thành vấn đề cấp bách hơn bao giờ hết.
 I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHONG CÁCH, PHONG CÁCH TRỌNG DÂN, VÌ DÂN CỦA HỒ CHÍ MINH
1.1. Một số vấn đề lý luận chung về phong cách, phong cách Hồ Chí Minh
Phong cách là một thuật ngữ đã được dùng từ lâu nhưng hiện nay vẫn đang có nhiều cách định nghĩa khác nhau. Theo nghĩa nghĩa Hán Việt, phong có nghĩa là phong thái, cách có nghĩa là cách điệu. Còn theo từ điển thì phong là vẻ bề ngoài. Cách là cách thức biểu hiện, trưng bày ra. Phong cách là sự biểu hiện bản chất, những tính cách bên trong của con người. Như vậy, phong cách theo chúng tôi có thể được hiểu là: Những lề lối, những cung cách làm việc, sinh hoạt, xử sự tạo nên vẻ riêng của một người hay một lớp người nào đó. Theo nghĩa hẹp, phong cách thường được dùng trong văn học nghệ thuật. Dưới góc độ này, phong cách có thể được hiểu: là dấu hiệu độc đáo, không lặp lại; là phẩm chất xuyên suốt qua các yếu tố của tác phẩm hay qua các tác phẩm của một tác giả nào đó; là phẩm chất tương đối ổn định của người sáng tác mà khác với những tác giả khác; phong cách là gương mặt tinh thần của riêng mỗi người với những phẩm chất trí tuệ và tình cảm cụ thể.
Phong cách còn được hiểu theo nghĩa rộng tức là lề lối, cung cách, cách thức, phong thái, phong độ và phẩm cách đã trở thành nền nếp ổn định của một người hoặc của một lớp người, được thể hiện trong tất cả các mặt hoạt động như lao động, học tập, sinh hoạt, ứng xử, diễn đạt, v.v. tạo nên những giá trị, những nét riêng biệt của chủ thể đó. 
Phong cách Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm, lề lối, cách thức, phong thái và phẩm chất trong tất cả các hoạt động, công tác, học tập, sinh hoạt, ứng xử, diễn đạt, v.v. của Người.  Đó là phong cách rất mẫu mực của người cách mạng, của người cán bộ, đảng viên, nó gắn bó mật thiết với tư tưởng, đường lối và phương pháp cách mạng. 
Phong cách có liên quan chặt chẽ với đạo đức, đạo đức được thể hiện qua phong cách, qua phong cách có thể đánh giá được đạo đức, đánh giá được nhân cách của một con người. Do đó, việc quán triệt học tập và làm việc theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là bao gồm một hệ thống quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại; về sức mạnh của nhân dân, về khối đại đoàn kết dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân, v.v..
Theo Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị thì phong cách Hồ Chí Minh phản ánh những giá trị cốt lõi trong tư tưởng, đạo đức của Người và được thể hiện vô cùng sinh động, tự nhiên, độc đáo, có sức thu hút, cảm hóa diệu kỳ trong hoạt động, ứng xử hàng ngày. Đó là: phong cách tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, luôn gắn chặt lý luận với thực tiễn; phong cách làm việc dân chủ và khoa học; phong cách ứng xử văn hóa, tinh tế, đầy tính nhân văn, thấm đậm tinh thần yêu dân, trọng dân, vì dân; phong cách lãnh đạo, nói đi đôi với làm, đi vào lòng người; Phong cách diễn đạt, nói viết ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm; phong cách sinh hoạt, sống thanh cao, trong sạch, giản dị; phong cách quần chúng, dân chủ, tự mình nêu gương, v.v..
Trong những nội dung về học tập tư tưởng đạo đức, phong cách làm việc của Hồ Chí Minh trên đây, nội dung nào cũng quan trọng. Tuy nhiên, theo tôi phong cách trọng dân, vì dân của Hồ Chí Minh là quan trọng nhất, vì đây là một phong cách có ảnh hưởng đến toàn thể lợi ích của dân tộc, của đất nước, trực tiếp ảnh hưởng đến việc phát triển bền vững nền kinh tế - xã hội.
1.2. Phong cách trọng dân, vì dân của Hồ Chí Minh
Phong cách trọng dân, vì dân của Bác là xuyên suốt, thống nhất và ngày nay nó vẫn còn nguyên giá trị. Phong cách đó như một nguyên tắc, một quy luật tất yếu mà ngày nay chúng ta phải không ngừng học tập, tu dưỡng. Bước đầu, chúng tôi khái quát phong cách trọng dân, vì dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh ở những khía cạnh cơ bản như sau.
Thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi trọng sức mạnh và trí tuệ của nhân dân
          Trong suốt cuộc đời làm cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn coi trọng sức dân, luôn tâm niệm là lấy dân làm gốc. Người cho rằng, “…trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Với Hồ Chí Minh, yêu dân, tin dân, dựa vào dân, sống đấu tranh vì hạnh phúc của nhân dân là nguyên tắc tối cao. Nguyên tắc này vừa là sự nối tiếp truyền thống quý báu của dân tộc “nước lấy dân làm gốc”, “chở thuyền và lật thuyền cũng là dân”, đồng thời là sự quán triệt sâu sắc nguyên lý mácxit “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, chứ không phải của riêng một hai người”. Theo Hồ Chí Minh, “dân là chỗ dựa vững chắc của Đảng, là nguồn sức mạnh vô tận và vô địch của khối đại đoàn kết, quyết định thắng lợi của cách mạng; là nền, gốc và chủ thể của mặt trận”.
          Tin tưởng vào sức mạnh và trí tuệ của nhân dân là một trong những phẩm chất cơ bản của người cộng sản. Trong hoàn cảnh đất nước càng gian khổ thì lại càng phải tin vào khả năng cách mạng, tin vào lực lượng quần chúng nhân dân. Sau khi giành được độc lập đứng trước những thử thách ngàn cân treo sợi tóc. Ngân quỹ quốc gia hầu như không còn, chỉ còn cách duy nhất là dựa vào dân, tin vào dân. 
Nhận thức được sức mạnh tất yếu của nhân dân, Hồ Chí Minh đã thường xuyên giáo dục cán bộ phải làm tốt công tác vận động nhân dân để chung sức, chung lòng xây dựng và bảo vệ đất nước. Ðiều quan trọng là kiên trì giải thích cho dân hiểu trách nhiệm, quyền hạn và lợi ích của mình. Người lãnh đạo chân chính bao giờ và bất cứ việc gì cũng phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, sao cho phù hợp với trình độ văn hóa, thói quen sinh hoạt, lòng ham ý muốn của dân. Xét cho cùng, mọi cái đều từ dân mà ra và trở về nơi dân. Ðể cho dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra mới là trọng dân.
Bên cạnh việc trọng dụng sức mạnh của dân, Hồ Chí Minh còn biết trọng dụng nhân tài, xem hiền tài là nguyên khí quốc gia mà như người xưa có câu: “Nguy cơ lớn nhất đối với một đất nước là trong nước có người tài mà không biết, biết mà không dùng, dùng mà không tin”. Để kêu gọi, nhắn nhủ những người hiền tài ra giúp nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Tìm người tài đức” đăng báo Cứu quốc, số 411, ra ngày 20/11/1946. Người nhấn mạnh: “Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Các địa phương phải lập tức điều tra nơi nào có người tài đức, có thể làm được những việc ích nước lợi dân, thì phải báo cáo ngay cho Chính phủ biết”. 
Chính nhờ tấm lòng rộng mở, trọng dụng nhân tài, được thừa kế từ truyền thống lâu đời của dân tộc ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm cho tầng lớp nhân sĩ, trí thức đem hết công sức của mình vào sự nghiệp cách mạng. 
         Thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và tôn trọng tinh thần dân chủ.
Tôn trọng dân chủ, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân là trọng dân, là vì dân, vì một xã hội phát triển bền vững, hài hòa. Là cơ quan quản lý nhà nước, là cán bộ lãnh đạo phải biết tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân thông qua các tổ chức đoàn thể đại diện như: Quốc hội, Mặt trận tổ quốc, Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội Phụ nữ, v.v.. Những vấn đề liên quan đến đường lối chính sách, đến cơ chế tổ chức có liên quan đến sinh mệnh, cuộc sống, tương lai hy vọng của hàng chục triệu quần chúng, nếu không có ý kiến của quần chúng, không tập hợp được trí tuệ của quần chúng sẽ không tránh khỏi những hạn chế sai lầm.
          Trong điều kiện Đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn: Phải ra sức thực hành dân chủ, thật sự tôn trọng quyền làm chủ của quần chúng, dân chủ về kinh tế, dân chủ về chính trị. Theo Người “Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến”, “Có dân chủ thì dân mới tin, mới dám nói, mới có sự sáng tạo”, do đó mới tạo nên động lực. Người khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân... Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Vì vậy, phải thực hiện một nền dân chủ của nhân dân, đảm bảo lợi ích chính đáng của dân, dân chủ thực sự cho dân. Đồng thời cũng phải đề ra quyền lợi và nghĩa vụ rõ ràng cho mỗi công dân làm theo đúng Hiến pháp và pháp luật. 
Không chỉ nhắc nhở cán bộ học dân, tin dân; nhắn nhủ nhân dân lựa chọn cán bộ xứng đáng đại diện cho quyền lợi của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là người “nói đi đôi với làm”, là người thực hành đường lối cách mạng vì nhân dân sâu sắc nhất, triệt để nhất. Người luôn là tấm gương sáng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên noi theo về lắng nghe, tôn trọng ý kiến của nhân dân và tinh thần dân chủ trong mọi hoàn cảnh.
          Thứ ba, luôn vì lợi ích của nhân dân, đấu tranh xóa bỏ những vi phạm đến lợi ích chung của nhân dân.
Hồ Chí Minh cho rằng, vấn đề quan trọng bậc nhất là vấn đề lợi ích của người dân. Nếu lãnh đạo mang lại lợi ích thiết thực cho dân, sẽ làm cho dân tin Ðảng, tin chế độ. Nguyên tắc chung của chính sách với dân là tạo sự hài hòa giữa ba lợi ích: Lợi ích cá, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội, trong đó, phải hết sức coi trọng lợi ích của người lao động chân chính. Ðiều tiết thu nhập hợp lý và phân chia công bằng lợi ích giữa các tầng lớp nhân dân là việc làm có ý nghĩa nhằm củng cố niềm tin của nhân dân vào Ðảng và Nhà nước. Muốn mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân, trước hết, phải có chính sách đúng. Quan điểm của Hồ Chí Minh là, tất cả đường lối, chính sách của Ðảng và Nhà nước đều có ảnh hưởng trực tiếp đến dân, đều phải hướng vào dân và nhằm nâng cao đời sống của nhân dân. Trong Di chúc, Người viết: Ðảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân, là trọng dân.
Mặt khác, Hồ Chí Minh luôn đặt lợi ích của nhân dân, của người lao động lên trên hết. Người nói: “Ngoài lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, Đảng ta không có lợi ích gì khác”. Chính vì vậy, lợi ích của Đảng, của Nhà nước với lợi ích của nhân dân là thống nhất, đó là lợi ích của cả tập thể, của đông đảo quần chúng nhân dân lao động và của toàn xã hội. 
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn nhắc nhở “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng đều là công bộc của dân, nghĩa là gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải đè đầu dân như trong thời kỳ Pháp, Nhật. Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”. Người sớm cảnh báo căn bệnh xa dân, thậm chí hành dân của cán bộ, mà Người gọi là “lên mặt làm quan cách mạng”. Những thói tham ô, lãng phí, quan liêu hại đến sức lực tiền của của nhân dân đã bị Người lên án mạnh mẽ. Một trong những bằng chứng cụ thể là việc Người đã phê chuẩn án tử hình đối với Trần Dụ Châu, nguyên Đại tá Giám đốc Nha quân nhu - Tổng cục Cung cấp (nay là Cục Quân nhu Tổng cục Hậu cần - Bộ Quốc phòng) can tội ăn cắp công quỹ và làm nhiều điều bỉ ổi. Vụ án này được xét xử vào ngày 5/9/1950 tại chiến khu Việt Bắc.
Thứ tư, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo cuộc sống của nhân dân.
         Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm, chăm lo đến cuộc sống của nhân dân như Người đã từng nói rằng: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng haa…”. Khi nước nhà vừa giành được độc lập, Người nêu rõ quan điểm: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân tộc ăn no, mặc đủ”.
          Năm 1955, nói chuyện tại Hội nghị sản xuất cứu đói, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định trách nhiệm của Đảng, Chính phủ đối với cuộc sống hàng ngày của dân. Người nhấn mạnh: “Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi, nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi...”. Bước sang thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Người nói rõ: “Mục đích của Chủ nghĩa xã hội là gì? Nói một cách giản đơn và dễ hiểu là: Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động”. 
Trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn đau đáu nỗi lòng về chăm lo cuộc sống của nhân dân, Người đã căn dặn toàn Đảng rằng: Đảng coi việc “làm đầy tớ” của nhân dân, phục vụ nhân dân, chăm lo cuộc sống vật chất, tinh thần của nhân dân là trách nhiệm, là vinh dự và niềm hạnh phúc.
Phong cách của Bác về trọng dân, vì dân là một phong cách xuyên suốt từ khi Bác ra đi tìm đường cứu nước cho đến nay. Tư tưởng yêu nước, thương thân, trọng dân, suốt đời vì cách mạng, vì nhân dân mà Bác đã hy sinh phấn đấu, không ham danh lợi cho cá nhân, với một lối sống giản dị, khiêm nhường đã trở thành tấm gương đạo đức, một phong cách vô cùng trong sáng để toàn thể cán bộ, đảng viên của chúng ta hiện nay học tập và noi theo. Tuy nhiên, hiện nay có không ít bộ phận cán bộ, đảng viên đã và đang xa rời dân chúng, làm quan cách mạng, những ông vua nhỏ xem dân không ra gì đang trở thành vấn đề cấp bách hơn bao giờ hết. Điều đó đang được đặt ra ở một số vấn đề cơ bản như sau.
II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRỌNG DÂN, VÌ DÂN ĐANG ĐẶT RA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Như trên chúng tôi đã đề cập, phong cách Hồ Chí Minh về trọng dân, vì dân là một phong cách xuyên suốt, có tính quy luật, tính tất yếu nhưng hiện nay nó đang trở thành vấn đề cấp bách hơn bao giờ hết. Bởi vì, có một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên không tuân theo những nguyên tắc đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đúc kết được, dẫn đến những hậu quả vô cùng nặng nề cho quốc gia, dân tộc, có nguy cơ làm xói mòn lòng tin của người dân với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Dưới góc độ cá nhân tôi cho rằng, phong cách trọng dân, vì dân của một số cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay đang đặt ra một số vấn đề cần phải quan tâm giải quyết như sau.
2.1. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa coi trọng sức mạnh, trí tuệ, dân chủ và lắng nghe ý kiến của nhân dân
2.1.1. Một số cán bộ, đảng viên chưa coi trọng sức mạnh và trí tuệ của nhân dân
Các nhà kinh điển cũng như Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn coi trọng sức mạnh của nhân dân, trí tuệ của nhân, tuy nhiên, một số cán bộ, đảng viên đang xem nhẹ sức mạnh của nhân dân, xem thường trí tuệ của nhân dân dẫn đến những hậu quả đáng tiếc cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Việc xem nhẹ sức mạnh của nhân dân được biểu hiện ở hành vi xa dân, quan liêu, hách dịch, xem mình là những ông vua con, không lấy dân làm gốc đã và đang diễn ra ở nhiều địa phương hiện nay của nước ta. Bên cạnh việc không lấy dân làm gốc, xem thường sức mạnh của nhân dân thì việc nhiều cơ quan tổ chức không trọng dụng người tài mà chủ yếu bố trí người nhà, tuyển dụng người thiếu năng lực cũng đang trở thành vấn đề nhức nhối trong xã hội hiện nay. Ở nhiều địa phương, đơn vị tuyển dụng bố trí nhiều cán bộ, đảng viên không đủ năng lực, tiêu chuẩn vào những vị trí quản lý quan trọng của các cơ quan công quyền. Ngoài ra, một số cơ quan tổ chức chủ trọng bố nhiệm người nhà, người thân dẫn đến cả nhà làm quan, cả họ làm quan. Điều đáng nói là những người được bố nhiệm lại chưa đủ điều kiện theo quy định nhưng lãnh đạo tại các địa phương vẫn cho rằng đúng quy trình. 
Bổ nhiệm người thân, quen, không trọng dụng người tài đã khiến cho nhiều nhân tài không về quê hương phục vụ đất nước, chảy máu chất xám đang là vấn đề báo động hiện nay. Theo báo Đời sống và Pháp luật online, thì hiện nay có “12/13 người đạt giải nhất đường lên đỉnh Olympia  đi du học không trở về nước làm việc”, chỉ duy nhất có một người về quê nhưng cũng không làm cho các cơ quan nhà nước.
2.1.2. Một số cán bộ, cơ quan quản lý chưa coi trọng dân chủ, chưa tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân.
Bên cạnh việc xem nhẹ sức mạnh và trí tuệ của nhân dân thì một số cán bộ, cơ quan quản lý nhà nước làm việc chưa thật sự tôn trọng tinh thần dân chủ, chưa tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhân dân đã và đang diễn ra trong thời gian qua gây nên sự bức xúc, nhức nhối trong dư luận xã hội.
Việc xem nhẹ dân chủ, hoặc dân chủ hình thức không phải là vấn đề xa lạ trong xã hội ta hiện nay. Nhiều cơ quan quản lý khi bầu vị trí lãnh đạo nhìn vào hình thức thì dân chủ, tuy nhiên về mặt nội dung và kết quả thì không phải ai trúng cử cũng được như mong đợi của người dân dẫn đến thiếu lòng tin của nhân dân. Nhiều người trúng cử nhiều khi không đủ tiêu chuẩn so với quy định. Bên cạnh đó, một số cán bộ, đảng viên, cơ quan quản lý không tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân cũng đang diễn ra hết sức nhức nhối.
Hiện nay, nhiều công trình dự án khi bắt đầu triển khai đã gặp phải sự phản ứng gay gắt của dư luận xã hội, đặc biệt là sự phản ứng của các nhà khoa học nhưng người có chức, có quyền vẫn không nghe, hoặc nghe nhưng không tiếp thu nên vẫn ra những quyết định triển khai dự án dẫn đến những thiệt hại nặng nề mà người dân đang hàng ngày, hàng giờ phải gánh chịu. Chẳng hạn, các dự án thủy điện vừa và nhỏ đã được các nhà khoa khọc, được dư luận xã hội xem là không có hiệu quả nhưng các cơ quan quản lý nhà nước vẫn ký các quyết định triển khai, giờ đây thủy điện thì không phát huy hiệu quả, rừng thì bị tàn phá, các con sông, con suối thì khô cạn. 
Thiếu tôn trọng, lắng nghe ý kiến của dư luận xã hội, của các nhà khoa học đang là một vấn nạn nghiêm trọng của một số cán bộ quản lý ở nước ta hiện nay. Vì vậy, chúng ta cần phải học tập tinh thần của Bác là luôn tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân, để góp phần xây dựng đất nước phát triển một cách khoa học và bền vững.
2.2. Một số cán bộ, đảng viên làm việc vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm, xâm phạm đến lợi ích chung của nhân dân
2.2.1. Một số cán bộ, đảng viên làm việc vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm
Hiện nay, không ít cán bộ, đảng viên đã và đang lợi dụng những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước để trục lợi cho cá nhân, nhóm của mình mà bất chấp lợi ích chung của dân tộc. Theo một báo cáo của Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI) công bố Chỉ số Cảm nhận Tham nhũng (CPI) 2015, xếp hạng 168 quốc gia và vùng lãnh thổ dựa trên cảm nhận của các doanh nhân và chuyên gia trong nước về tham nhũng trong khu vực công thì Việt Nam đứng thứ 112/168 quốc gia. Điều này chứng tỏ rằng việc tham ô, tham nhũng ở Việt Nam thuộc dạng cao nhất thế giới, vì vậy, lợi ích chủ yếu chảy về túi một số cán bộ, đảng viên, có chức, có quyền. Chẳng hạn, hiện nay có nhiều dự án đang được triển khai thì không ít dự án vì lợi ích riêng của một số nhóm người và đang gây thiệt hại cho nhân dân như việc khai thác vàng ở Quảng Nam, Nghệ An, khai thác titan ở Bình Định. Đây là điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo và căn dặn cán bộ quản lý của chúng ta từ lâu: “Việc gì lợi cho dân ta phải hết sức làm. Việc gì có hại đến dân, ta phải hết sức tránh”. Theo Bác thì cái gì có hại cho dân dù nhỏ nhất chúng ta cũng nên hết sức tránh, tuy nhiên, thực tiễn lại không diễn ra như lời Bác dặn trước đây.
2.2.2. Một số cán bộ, đảng viên đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đã xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của nhân dân.
Hiện nay, việc chăm lo đời sống của nhân dân tuy được quan tâm hơn bởi các cơ quan quản lý nhà nước, cũng như các nhà hảo tâm, tình nguyện viên. Đây là điều mà trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn đau đáu nỗi lòng về chăm lo cuộc sống của nhân dân, Người đã căn dặn toàn Đảng rằng: Đảng coi việc “làm đầy tớ” của nhân dân, phục vụ nhân dân, chăm lo cuộc sống vật chất, tinh thần của nhân dân là trách nhiệm, là vinh dự và niềm hạnh phúc. Tuy nhiên, thực tiễn hiện nay thì có không ít cán bộ, đảng viên được giao nhiệm vụ quan tâm đến đời sống nhân dân nhưng lại lợi dụng nhiệm vụ được giao để xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của nhân dân nhằm phục vụ cho mục đích của cá nhân và gia đình.
Bên cạnh đó, một số cán bộ, đảng viên còn ăn chặn cả tiền mồ hôi và công sức của những lão thành cách mạng, người đã đổ biết bao nhiêu xương máu để bảo vệ tổ quốc được như hôm nay. Mới đây, tại tỉnh An Giang “phát hiện 114 bằng Tổ quốc ghi công, huân và huy chương được ký từ năm 1975 – 2002 nhưng chưa được trao cho các gia đình”. 
Như vậy, có thể thấy rằng, chăm lo cho dân là nhiệm vụ cấp bách, là tư tưởng xuyên suốt của Đảng và Nhà nước, tiếc rằng một bộ phận không nhỏ đã lợi dụng các kẽ hở của pháp luật, sự buông lỏng quản lý của các cấp, các ngành nên đã trục lợi về cho bản thân và gia đình mình gây nên những bức xúc trong xã hội. 
C. KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu khái quát phong cách Hồ Chí Minh về trọng dân, vì dân và thực tiễn về phong cách trọng dân, vì dân của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay, chúng tôi rút ra một số kết luận có ý nghĩa phương pháp luận như sau.
Một là, phải luôn coi trọng sức mạnh và trí tuệ của nhân dân, luôn lấy dân làm gốc trong mọi hoàn cảnh. Đây được xem là tính tất yếu, có truyền thống lâu đời của dân tộc ta, nó trở thành quy luật mà chúng ta phải nghiêm túc tuân theo. Tôn trọng sức mạnh của nhân dân là tin tưởng vào lực lượng và tinh thần của nhân dân, tin tưởng vào sự đoàn kết và trí tuệ của nhân dân, chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân. Ngày nay chúng ta phải vận dụng và quán triệt quan điểm này đối với mọi cán bộ, đảng viên, nhất là một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đang xem nhẹ sức dân, xem nhẹ trí tuệ của dân, không biết trọng dụng nhân tài, chỉ biết trọng dụng người nhà, người thân. Đồng thời cần phải loại bỏ những cán bộ, đảng viên không đủ năng lực, trí tuệ đang ngồi trên những chiếc ghế để lãnh đạo nhân dân.
Hai là, phải luôn quán triệt tinh thần dân chủ, dân chủ khách quan, dân chủ thực sự, chứ không phải dân chủ hình thức. Dân chủ là tôn trọng quyền làm chủ của quần chúng nhân dân, có dân chủ thì dân mới tin vào cán bộ, đảng viên, tin vào sự lãnh đạo của Đảng. Dân chủ đi với công khai, minh bạch để mọi người dân được biết, được bàn và được kiểm tra, giám sát. Đồng thời cũng xử lý nghiêm những cơ quan, đơn vị thiếu tinh thần dân chủ, thiếu công khai, minh mạch. Bên cạnh đó, phải luôn lắng nghe ý kiến đóng góp của nhân dân, của các nhà khoa học. Mọi công trình, dự án, chủ trương, chính sách chỉ được triển khai khi đảm bảo được tính khoa học, đảm bảo được lợi ích cho nhân dân, đất nước.
Ba là, phải luôn tôn trọng lợi ích của nhân dân, đặt lợi ích của nhân dân, của dân tộc lên trên hết, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói ngoài lợi ích của nhân dân thì Đảng ta không có lợi ích nào khác. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng phải xuất phát từ nhân dân, vì nhân dân chứ không phải vì lợi ích của một số cá nhân, nhóm người nào đó. Phải quản triệt tinh thần vì dân, vì nước đối với mọi cán bộ, đảng viên, việc gì có lợi ích cho dân thì hết sức làm, cái gì có hại cho dân, dù nhỏ nhất cũng hết sức tránh. Đồng thời xử lý nghiêm minh trước pháp luật đối với những cán bộ, đảng viên, doanh nghiệp vì lợi ích riêng của mình đã và đang xâm phạm đến lợi ích chung của gia dân tộc mà người dân ở nhiều địa phương hiện nay đang phải gánh chịu.
Thứ tư, phải luôn quan tâm đến đời sông snhana dân, nhất là những người đã hy sinh vì dân, vì đất nước, những cán bộ, chiến sỹ ở vùng sâu vùng xa, những hoàn cảnh khó khăn... theo đúng chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước. Đây là điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh: "Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm lo đến đời sống của nhân dân ..." Phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật những cán bộ, đảng viên được giao trọng trách chăm lo đời sống của nhân dân theo chế độ, chính sách của nhà nước nhưng lại lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để chiếm đoạt lợi ích hợp pháp của nhân dân.
Hồ Công Đức


Các tin khác:
LIÊN KẾT ĐÀO TẠO