NÂNG CAO NĂNG LỰC VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC LƯƠNG THẾ VINH (Phần 1)

 NÂNG CAO NĂNG LỰC VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC LƯƠNG THẾ VINH

TS. Nguyễn Ngọc Hùng - Hiệu trưởng

Trường Đại học Lương Thế Vinh

 

            Giáo dục đại học nói chung và phương pháp dạy học đại học tại Trường Đại học Lương Thế Vinh nói riêng đã và đang là yêu cầu cấp bách của hệ thống giáo dục đại học nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo. Tuyên bố của Hội nghị quốc tế về giáo dục đại học năm 1998 do UNESCO tổ chức đã chỉ rõ: "Sứ mệnh của giáo dục đại học là góp phần vào yêu cầu phát triển bền vững và phát triển xã hội nói chung  đồng thời giáo dục đại học cần được triển khai về phương pháp đào tạo theo 3 tiêu chí: 1/Trang bị cách học; 2/ Phát huy tính chủ động của người học; 3/Sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong hoạt động dạy và học.

            Trong thời gian vừa qua, nhiều vấn đề cơ bản của phương pháp dạy học đại học đã được sự quan tâm nghiên cứu và ứng dụng cho đội ngũ giảng viên đại học nói chung và phương pháp dạy học đại học tại Tường Đại học Lương Thế Vinh nói riêng. Các nội dung này có vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trình nâng cao năng lực giảng dạy cho đội ngũ giảng viên, hỗ trợ tích cực trong quá trình chuyển đổi sang phương thúc đào tạo theo tín chỉ ở Trường đại học Lương Thế Vinh hiện nay.

1.1. Dạy học và những thành tố cơ bản của quá trình dạy học

  1.1.1. Khái niệm về phương pháp dạy học

        Ph­ương pháp là một phạm trù quan trọng có tính chất quyết định đối với mọi hoạt động. Phương pháp theo tiếng Hylạp “Methodos” có nghĩa là theo con đ­ờng “đi theo sau” một sự vật, một đối tượng, một vấn đề; dõi theo logic và kết cấu bên trong của đối tượng; đạt tới “hay, nắm lấy được từ phía sau” một đối tượng và những mối liên hệ của nó. Từ đó, ta có một định nghĩa phổ biến nhất của khái niệm:

 

 Phương pháp là cách thức, con đ­ờng để đạt tới mục đích nhất định.

 Bất kỳ phương pháp nào dù là phương pháp nhận thức hay phương pháp sản xuất cũng bao gồm sự nhận thức những quy luật khách quan hay hệ thống những thủ thuật để nhận thức và hành động thực tiễn. Những quy luật khách quan mà con người nhận thức được sẽ tạo nên phương pháp, còn những thủ thuật thao tác nẩy sinh ra trên cơ sở những quy luật nhận thức và cải tiến các hiện tượng, thúc đẩy quá trình tạo nên mặt chủ quan của phương pháp. Là cơ sở chỉ ra cho con người biết nên dùng những thủ thuật, thao tác gì, trong tr­ờng hợp nào, cần hành động nh­ thế nào để đạt mục đích đã vạch ra và làm nh­ thế nào để tìm ra cái mới trong nhận thức, trong thực tiễn.

       Phương pháp dạy học được xây dựng và vận dụng vào một quá trình cụ thể: quá trình dạy học. Đây là quá trình được đặc tr­ng ở tính chất hai mặt, hai hoạt động: hoạt động dạy của Thầy và hoạt động học của Trò. Hai hoạt động này được tiến hành trong mối quan hệ biện chứng, đóng vai Trò chủ đạo (tổ chức điều khiển); hoạt động học đóng vai Trò tích cực chủ động (tự tổ chức, tự điều khiển). Mục đích của người dạy chỉ có thể đạt được trong tr­ờng hợp người học hiểu rõ và tiếp thu.    

      Do vậy, trong quá trình dạy học, hoạt động của người dạy và người học phải phối hợp với nhau, mục đích của hai hoạt động này phải phù hợp nh­ng không trùng nhau. Ví dụ: mục đích của người dạy là truyền đạt cho người học những khái niệm, kiến thức nhất định, những kỹ năng và cách vận dụng chúng khi thực hiện những nhiệm vụ do thực tiễn đề ra. Nh­ vậy, h­ớng của mục đích là một nh­ng tuỳ theo nội dung mà hành động thực hiện có khác nhau nên căn cứ vào yêu cầu, đặc điểm, nội dung tài liệu dạy học mà làm rõ: mục đích của giảng dạy để chọn lựa hoạt động s­ phạm nhằm đạt mục đích giáo dục của tiết học, tổ chức hoạt động học tập của Trò cần chú ý đến trình độ thực tế, các đặc điểm tâm sinh lý và cá biệt của Tro để điều khiển quá trình nhận thức, uốn nắn; kiểm tra đánh giá kết quả (trình độ kiến thức, kỹ năng được hình thành và khả năng vận dụng). T­ơng ứng hệ thống hoạt động học tập, Trò phải hiểu được mục đích, ý nghĩa, chọn và vận dụng những cách thức hợp lý nhất để đạt được mục đích đề ra bằng tất cả các phương tiện sẵn có; tự kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của mình trong từng giai đoạn. Cần hiểu phương pháp giảng dạy là hệ thống các hoạt động có mục đích của Thầy, đảm bảo cho Trò nắm vững kiến thức, kỹ năng, phát triển năng lực thực hiện. Hoạt động chung của Thầy và Trò đều nhằm mục đích dạy học, từ chỗ ch­a biết đến chỗ biết, từ kỹ năng đơn giản đến các kỹ năng có tính chất sáng tạo tìm tòi, làm phát triển ý chí, trí tuệ và tình cảm của Trò. Kết quả của sự tiến bộ này phụ thuộc rất nhiều vào cách điều khiển quá trình nhận thức, vào việc sử dụng các phương pháp dạy học và cách thức tiến hành giờ học của Thầy.

Tóm lại: phương pháp dạy học là tổng hợp những cách thức làm việc của Thầy và Trò. Trong quá trình thực hiện Thầy giữ vai Trò chủ đạo và Trò giữ vai Trò tích cực, chủ động. Các hoạt động của Thầy trong giờ học được xây dựng trên cơ sở của đặc điểm, nội dung tài liệu dạy học nhằm tổ chức hệ thống hoạt động của Trò phù hợp với mục tiêu và kết quả mong muốn đã đề ra.

      Phương pháp dạy học giúp cho Thầy và Trò thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học sau:

Trang bị cho Trò hệ thống kiến thức cơ bản cơ sở và chuyên ngành hiện đại, phù hợp với điều kiện, trình độ sản xuất và hệ thống kỹ năng, nhằm làm cho Trò có thể tham gia trực tiếp vào sản xuất ngay sau khi tốt nghiệp. Tiếp tục phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, rèn luyện kỹ năng nghề và phát triển thế giới quan khoa học cho Trò.

         1.1.2. Các thành tố của quá trình dạy học

           Trong lý luận dạy học, dạy học được xem như một quá trình với sự tương tác qua lại của nhiều thành tố. Các thành tố cơ bản của quá trình Dạy - Học cho ở hình 1

   Môi trường sư phạm

 

                           Hình 1.  Các thành tố cơ bản của quá trình dạy học

 

            1.2..Một số đặc điểm cơ bản của các thành tố của quá trình dạy học

            1.2.1. Về Mục tiêu dạy học

 Hiểu một cách ngắn gọn mục tiêu dạy học chính là các kết quả học tập cần đạt sau một quá trình dạy học. Thông thường mục tiêu dạy học của bài học góp phần thực hiện mục tiêu dạy học của môn học/học phần và các mục tiêu dạy học cụ thể là các thành tố tạo nên mục đích dạy học. Thông thường mục tiêu dạy học được xác định là phải tạo cho người học có tri thức, kỹ năng, thái độ từ đó hình thành các phẩm chất, năng lực cụ thể . Tuy nhiên chúng ta thường chưa chú ý thích đáng đến một số yêu cầu khi xác định mục tiêu dạy học, đó là:

- Mục tiêu xác định phải hướng vào người học: Những công việc, hoạt động có thể làm được  hoặc mức trình độ sau khi học ( thường gọi là mục tiêu học tập)

-  Mục tiêu đó có thể mô tả tường minh và có thể quan sát được;

- Mục tiêu đó có thể thể lấy làm bằng chứng cho kết quả học tập và đo lường được;

- Mục tiêu đó gắn với phương pháp dạy học và điều kiện để đạt được nó.

Người ta khuyến cáo nên diễn đạt mục tiêu dạy học bắt đầu bằng các động từ như: thực hiện, chứng minh, so sánh, áp dụng .....

1.2.2. Về nội dung dạy học

Câu hỏi cần đặt ra đầu tiên cho việc xác định nội dung dạy học là: Người học cần phải học những nội dung gì để đạt được các mục tiêu đã đặt ra trong một điều kiện thời gian, không gian và cho một đối tượng cụ thể ?

Để đạt được mục tiêu dạy học trong toàn bộ nội dung cần đặt cho các phần nội dung các trọng số ưu tiên trong quá trình tổ chức lĩnh hội trên lớp. Một gợi ý có thể tham khảo được mô tả theo sơ đồ dưới đây:                                

                                                         

 Hình 2.  Cấu trúc nội dung dạy học

 - Vòng  1 trong cùng mô tả những nội dung cốt lõi của bài học (hoặc của học phần) mà người học phải biết

         -   Ô  2 tiếp theo mô tả những nội dung mà người học cần biết

- Ô ngoài cùng 3 mô tả những nội dung liên đới mà người học Nên biết

            Việc xác định nội dung Phải biết, Cần biết, Nên biết có thể cho một bài học, một học phần hay của một khoá học,  giúp cho ta xác định phần cứng cốt lõi và phần mềm, phần mở rộng trong nội dung dạy học. Việc xác định các phần như trên cũng cho phép xác định các phần bắt buộc (chất liệu chủ yếu để thực hiện mục tiêu đã đặt ra cho người học) và phần tự chọn trong nội dung học tập. Tuy nhiên, đối với một giờ dạy học điều này giúp người dạy phân bổ thời lượng hợp lý cũng như đặt đúng trọng số ưu tiên cho kế hoạch dạy học cũng như chỉ đạo việc lựa chọn cách thức tổ chức dạy học thích hợp. Cần lưu ý rằng nội dung dạy học không chỉ là nội dung học được trên lớp hay nội dung mà thầy đã truyền đạt cho người học mà nó còn bao hàm cả nội dung người học được thảo luận, tự học, tự tìm kiếm và xử lý. Một hình ảnh giúp các giảng viên liên tưởng khi tổ chức quá trình dạy học trên lớp là: Nếu coi toàn bộ nội dung của một bài học (hay học phần) là một cây cổ thụ (cây tri thức) thì phần thân, rễ, cành chính giảng viên nên tổ chức cho người học " nắm được" được ngay trên lớp; còn phần nhánh, lá nên chỉ cho họ tiếp tục " mở rộng" và hoàn thiện " cây tri thức " ở nhà. Cũng cần lưu ý rằng khi chiếm lĩnh nội dung học người học chiếm lĩnh cả phương pháp nhận thức khoa học vì vậy đừng quan niệm nội dung chỉ là kiến thức mà còn có cả cách học, phương pháp tư duy.

1.2.3. Về phương pháp dạy học

           Khái niệm phương pháp được hiểu một cách chung nhất là cách thức hành động (hoạt động) hướng tới đạt được những mục tiêu, mục đích đã định trong những điều kiện và môi trường cụ thể. Phương pháp dạy học được hiểu là cách thức tổ chức các hoạt động của người dậy (thầy) và người học (trò) nhằm hình thành và phát triển ở người học các kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp và phát triển nhân cách trong quá trình đào tạo.

          Là một thành tố cấu thành quá trình dạy học, các phương pháp dạy học góp phần quyết định chất lượng và hiệu quả của toàn bộ quá trình dạy học trong thực tế theo các yêu cầu được xác định trong mục tiêu đào tạo. Nếu như trước đây, chúng ta vẫn quan niệm phương pháp phụ thuộc đơn thuần vào mục tiêu, nội dung dạy học thì đến nay cả trong lý luận và thực tiễn dạy học đã chứng tỏ ảnh hưởng qua lại trực tiếp của phương pháp đến nội dung dạy học và đặc biệt là đến cấu trúc nội dung dạy học. Việc ứng dụng các phương pháp dạy học tích cực như giải quyết tình huống. vấn đề, thảo luận nhóm, tập luyện theo qui trình, môđun hóa v.v... đòi hỏi phải cấu trúc lại các chương trình đào tạo truyền thống, kinh viện. Việc thay đổi phương pháp cũng sẽ dẫn đến những thay đổi trong các hình thức tổ chức đào tạo và cách thức kiểm tra - đánh giá kết quả đào tạo. Nếu như việc sử dụng phương pháp diễn giảng kết hợp với cảc giáo cụ trực quan (tranh, ảnh, mô hình) có hiệu quả tốt trong hình thức tổ chức dạy học theo nhóm, lớp v.v... thì các phương pháp hướng dẫn thực hành, tập luyện chương trình hoá v.v... chủ yếu thích hợp với các hình thức tổ chức đào tạo theo từng cá nhân. Có thể nói rằng, quá trình dạy học sẽ đạt được kết quả tốt nếu người giảng viên nắm vững các quy luật vận động của quá trình dạy học và giải quyết tốt mối quan hệ biện chứng giữa các nhân tố cấu thành quá trình dạy học như một chỉnh thể trọn vẹn. 

Trong quá trình dạy học, phương pháp là yếu tố phụ thuộc nhiều nhất vào các yếu tố đã nêu ra ở trên (xem hình 3). nó chỉ rõ cách thức hoạt động dạy học và việc lựa chọn nó không phải chỉ do giảng viên  lựa chọn chủ quan, theo ý thích mà phải phù hợp với mục tiêu, nội dung, điều kiện phương tiện dạy học  và đặc biệt là phải phù hợp với đặc điểm của người học.

             Có thể nói rằng sự lựa chọn phương pháp dạy học chịu 6 yếu tố còn lại chi phối. Muốn có phương pháp dạy học tối ưu cần quan tâm đến mối quan hệ và sự chi phối của mọi yếu tố nêu trên lên sự lựa chọn phương pháp dạy học trong quá trình dạy học.                                     

   Hình 3. Mối quan hệ giữa PP với các nhân tố khác của quá trình dạy học

 Theo GS Trần Bá Hoành, điều kiện để áp dụng các phương pháp sư phạm tích cực là:

- GV phải có năng lực chuyên môn, kinh nghiệm và tay nghề sư phạm;

- SV/HV phải được chuẩn bị tâm thế và có phương pháp học phù hợp;

- Đổi mới cấu trúc chương trình và nội dung dạy học;

- Bổ sung phương tiện thiết bị và các học liệu cho dạy học;

- Thay đổi cách thi cử, đánh giá GV và Học viên.

           1.2.4. Về  phương tiện dạy học

Cũng như các loại hình lao động khác, lao động sư phạm của người giảng viên và hoạt động học tập của sinh viên đòi hỏi phái có các phương tiện thích ứng cho các hoạt động dạy và học. Theo quan niệm của các nhà sư phạm nói đến phương tiện dạy học là phải nói đến tấm gương của giảng viên đối với sinh viên.Tuy nhiên ở đây chỉ dùng khái niệm phương tiện dạy học theo nghĩa công cụ, công nghệ dạy học.

Một số nhà giáo dục đã đặt tên cho mô hình dạy học là truyền thống hay hiện đại phụ thuộc vào đặc điểm của 3 yếu tố: Vai trò người học, vai trò người dạy và công cụ, công nghệ được sử dụng trong dạy học là gì? Ví dụ : Nếu dạy học tập trung vào GV, người học thụ động và phương tiện dạy học chủ yếu với phương tiện truyền thống thì mô hình dạy học đó là mô hình dạy học truyền thống (chính vì vậy người ta thường nói dạy học truyền thống chỉ cần phấn và bảng). Nếu dạy học tập trung vào người học nhưng là người học chung chung tức đã phát huy được tính chủ động của người học nói chung và phương tiện dạy học ở đây đã có thêm máy vi tính cá nhân thì mô hình dạy học đó được đặt tên là mô hình dạy học thông tin (cũng có nhà sư phạm gọi là mô hình cá thể). Khi trong phương tiện dạy học có sự tham gia của công nghệ thông tin và thông lưu và việc dạy học hướng trọng tâm vào các nhóm thì sự thích ứng là vai trò cơ bản của người học và mô hình dạy học như vậy được coi là mô hình dạy học hiện đại (cũng có người cho nó cái tên là mô hình kiến thức hay hợp tác.....). Nêu lên các ý kiến trên với mục đích nhận thức vai trò của điều kiện phương tiện dạy học trong quá trình dạy học. Với quan niệm phương tiện dạy học là những công cụ phục vụ cho việc dạy học tức hỗ trợ giảng viên chuyển tải nội dung và giúp học viên thực hiện quá trình nhận thức nội dung học của mình. Người xưa đã có câu "Trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng được làm) và tư duy nảy sinh trong hành động”. Như vậy phương tiện dạy học nâng mức độ nhận thức nội dung dạy học đối với người học, tạo cơ hội và điều kiện hỗ trợ cho họ tích cực, tự lực chiếm lĩnh tri thức. Tuy nhiên vấn đề sử dụng và khai thác hiệu suất, hiệu quả của các phương tiện kỹ thuật đặt lên vai các nhà sư phạm một trách nhiệm mới đòi hỏi người giảng viên phải có hiểu biết và năng lực khai thác hiệu quả công năng của phương tiện, thiết bị để công nghệ hoá quá trình dạy học.

1.2.5. Về kiểm tra & đánh giá

Đánh giá trong dạy học theo nghĩa rộng không chỉ bó hẹp vào việc đánh giá kết quả học tập của người học mà nó còn liên quan đến việc đánh giá mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp dạy học, giảng viên... Ở đây chỉ nêu một số vấn đề về đánh giá kết quả học tập của người học. Theo quan niệm của Jamin Bloom nhận thức của người học đi từ thấp đến cao theo 6 mức độ : 1/Nhận biết và nhớ, ở đây người học có thể tái hiện được những điều đã được học; 2/Hiểu, ở đây người học đã có thể diễn đạt lại những điều đã học theo ngôn ngữ của mình và cũng có khả năng liên hệ chút ít; 3/ Mức độ ứng dụng, ở đây người học đã có khả năng vận dụng kiến thức của mình để giải quyết một số tình huống hay bài tập; 4/Mức độ phân tích, ở đây người học đã có khả năng tách các thành tố của kiến thức được học để lĩnh hội và sắp xếp nó theo lôgic nhận thức của mình; 5/Mức độ tổng hợp, ở đây trình độ khái quát hoá cao, người học có khả năng tích hợp kiến thức và biến thành sở hữu của bản thân; 6/Mức độ đánh giá, ở mức độ này người học có khả năng phán xét, phân loại thông tin và có thể sử dụng chúng như công cụ phương tiện không chỉ để tư duy mà còn để hành động trong cuộc sống.

Hiện nay, do nhiều lí do mà kiểm tra đánh giá kết quả học tập của người học ở nhà trường của chúng ta chưa chú ý đến việc kiểm tra đánh giá ở mức nhận thức cao của thang Bloom. Thậm chí chỉ  nhiều nội dung kiểm tra cần tái hiện được những điều "thầy dạy".Việc nâng cao mức độ đánh giá cần được quán triệt khi chọn nội dung đánh giá cũng như hình thức đánh giá và đặc biệt cần bảo đảm nguyên tắc :" Kiểm tra đánh giá của giảng viên phải kích thích được sự tự kiểm tra đánh giá của người học và kiểm định được chính xác, khách quan thành quả học tập và mức độ đạt được mục tiêu dạy học".

Để đánh giá toàn diện, chính xác kết quả học tập cần sử dụng đồng bộ, có hiệu quả các hình thức kiểm tra đánh giá như quan sát, vấn đáp, viết. Trong hình thức viết có thể sử dụng hình thức trắc nghiệm tự luận, có thể sử dụng hình thức trắc nghiệm khách quan. Một khuyến cáo đáng tham khảo là để tránh học vẹt, tạo điều kiện để người học hình thành năng lực ứng dụng, đặc biệt đối với sinh viên đại học thì không nên ra đề để kiểm tra, đánh giá người học ở mức thấp trong các mức độ nhận thức mà Bloom đã nêu ra ở trên.

(Xem tiếp phần 2)



Các tin khác:
LIÊN KẾT ĐÀO TẠO